Thứ Tư, 26 tháng 7, 2023

Bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Chứt ở Hà Tĩnh


Từ những năm 60 của thế kỷ trước, Người Chứt ở Hương Khê sống du canh du cư trên các triền núi. Năm 1967, Bộ đội Biên phòng đưa người Chứt đến Bản  Mèo Thây (xã Hương Vĩnh), chiến tranh chống Mỹ ác liệt, năm 1970, người Chứt về sống nơi ngọn khe Đằng Đằng, xã Hương Liên. Đến khi hòa bình lập lại, năm 1976 chính quyền địa phương xã phối hợp với Biên phòng đưa người Chứt về định cư nơi Bản  Rào tre ngày nay. Dân tộc chứt ở bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) hiện nay có 47 hộ, 156 khẩu, chiếm 6,7% dân số toàn xã.

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Nghị quyết số 24- NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc, Đề án bảo tồn và phát triển dân tộc Chứt giai đoạn 2014 – 2018 của UBND Tỉnh Hà Tĩnh và các văn bản lãnh đạo của tỉnh, huyện, xã, đời sống vật chất và tinh thần của người dân tộc Chứt không ngừng được nâng lên. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, sự vào cuộc của hệ thống chính trị, sự tham gia của người dân đã tạo nên một khí thế mới trong đời sống văn hóa của người Chứt.


Một số kết quả đạt được: 

Phong tục, tập quán sản xuất: Du canh du cư, - ổn định sản xuất

Đảng ủy đã chỉ đạo UBND, MTTQ và các đoàn thể xã lồng ghép, vận dụng các chính sách hỗ trợ hộ đối với vùng nghèo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ chính sách của Trung ương, Tỉnh và huyện như chính sách về nhà ở, nhà vệ sinh, nhà tắm, hỗ trợ sinh kế, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, trường học, nhà văn hóa. Chỉ đạo Hội đồng nhân dân xã ban hành cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua hỗ trợ tiền làm đất, phân bón, giống cây...để bà con dân tộc sản xuất. Từng bước hình thành nếp sinh hoạt và sản xuất định canh, định cư, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, bài trừ các hủ tục lạc hậu.

Chỉ đạo triển khai thực hiện tốt Đề án “phát triển đồng bào dân tộc Chứt tại bản Rào Tre” giai đoạn 2014 – 2018 của UBND tỉnh. Kết quả thực hiện Đề án đã góp phần từng bước cải thiện đời sống đồng bào dân tộc, trong đó về nhà ở đã có hệ thống hạ tầng phục vụ dân sinh đã được quy hoạch và đầu tư xây dựng; chất lượng cuộc sống được cải thiện; tỷ lệ nghèo đói đã có xu hướng giảm; đa số đồng bào có nước sạch để sinh hoạt; hệ thống lưới điện đã được đầu tư; tình trạng hôn nhân cận huyết thống từng bước được cải thiện; cơ bản học sinh được đến trường theo từng lứa tuổi; tình hình an ninh trật tự được kiểm soát, cụ thể:

- Công tác giáo dục: Hiện nay tại bản Rào Tre, độ tuổi 6 đến 10 tuổi có 20 em; từ 11 đến 18 tuổi có 25 em. Do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, phổ cập các chính sách ưu đãi nên 100% học sinh trong độ tuổi đều tham gia học tập mầm non, Trung học, Trung học cơ sở và trường dân tộc nội trú. Để tạo điều kiện cho học sinh Dân tộc xã đã xây dựng 01 điểm trường Mầm non tại bản, có phòng học, phòng ăn và ngủ, phòng bếp có đầy đủ đồ dùng trang thiết bị.

- Cơ sở vật chất văn hóa: Hiện nay Bản Rào Tre có 01 nhà văn hóa được Bộ Văn hóa thông tin và Du lịch đầu tư xây dựng với tổng kinh phí 6 tỷ đồng, 2 cụm loa truyền thanh; 20/43 hộ có vô tuyến.

- Lễ hội: Các ngày tết, lễ hội của dân tộc Chứt được duy trì, như: Lễ chọn đất để làm nương rẫy, xuống giống (lễ Klôống); lễ cúng sau khi việc chọc lỗ, trỉa hạt đã hoàn tất Lấp Lỗ (lễ Klốplô); Lễ ăn cơm mới (Chăm – Cha – Bới); tết nguyên đán theo tết cổ truyền của người Kinh.  

- Kiến trúc nhà ở: Hiện nay cơ bản các hộ dân tộc Chứt được làm nhà sàn theo truyền thống, đến nay đã xây mới được 20 nhà ở, sửa chữa 17 nhà trị giá 2,1 tỉ đồng,

- Phong tục hôn nhân: Người Chứt có tập tục hôn nhân khá sớm (trai 16 – 17 tuổi, gái 15 – 16 tuổi); vẫn còn hiện tượng hôn nhân cận huyết thống. Đảng ủy đã chỉ đạo các đoàn thể, Ban văn hóa xã phối hợp với Bộ đội Biên phòng tuyên truyền vận động để người dân tộc thay đổi cách nghĩ, phối hợp với các đơn vị truyền hình thực hiện các phóng sự để nâng cao nhận thức cho người dân tộc. Kết hợp với thực hiện đề án bảo tồn và phát triển dân tộc Chứt giai đoạn 2014-2018 đã có chính sách hỗ trợ các cặp đôi kết hôn giữa người Chứt với dân tộc khác. Đề án đã hỗ trợ 4 công dân kết hôn với đồng bào người kinh và người dân tộc khác, mỗi cặp vợ đồng được hỗ trợ 30 triệu đồng

- Làn điệu ca hát truyền thống: các điệu dân vũ được biên đạo mới cho ngày tết Chăm Cha Bới; dân nhạc của người Chứt là hát tùy hứng, theo điệu cà – tưm, cà – lềnh; nhạc cụ truyền thống Chơ -ra– Bon; kèn môi, sáo pi, tù và, ống pìa; hiện nay Đảng ủy xã đang tập trung lãnh đạo để khôi phục, duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống này. Chỉ đạo hình thành các câu lạc bộ tại khu vực dân cư, từng bước đưa các nội dung vào sinh hoạt ngoại khóa cho các em học sinh dân tộc tại trường mầm non, tiểu học.


2. Một số khó khăn vướng mắc:

- Kiến trúc nhà ở: Hiện nay để làm nhà ở cho đồng bào Dân tộc Chứt không có nguồn kinh phí riêng, công tác xã hội hóa ở xã vùng sâu gặp nhiều khó khăn. Vừa qua để xây mới 9 nhà ở cho đồng bào dân tộc xã thực hiện theo Hướng dẫn 121/HD-UBND của UBND tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ mỗi nhà 70 triệu đồng, huyện hỗ trợ thêm 50 triệu đồng. Tổng kinh phí là 120 triệu đồng thì không đủ để xây dựng nhà sàn, đảm bảo kiến trúc truyền thống cho đồng bào dân tộc.

- Nguy cơ về hôn nhân cận huyết thống vẫn rất cao do người người Dân tộc và người Kinh ngại lấy nhau. Chính sách hỗ trợ đám cưới 30 triệu đồng chỉ duy trì từ năm 2015 đến năm 2018. Từ năm 2018 đến nay có 6 cặp kết hôn nhưng đến nay chỉ có thêm duy nhất 01 cặp vợ chồng  người Chứt kết hôn với người Kinh (năm 2023).

- Các làn điệu ca hát truyền thống của người Chứt đang dần mai một do giới trẻ hiện nay ít quan tâm, chỉ thích các điệu nhạc hiện đại có ảnh hưởng từ phương Tây.  Còn rất ít người biết chơi các nhạc cụ truyền thống như đàn Chơ- ra-bon; kèn môi, sáo pi, tù và, ống

- Kinh phí để duy trì các lễ hội của người dân tộc Chứt rất lớn so với khả năng của xã.

  - Xã chưa có cán bộ phụ trách công tác dân tộc, cắm bản, kinh nghiệm tuyên truyền, bảo tồn bản sắc văn hóa trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của cán bộ còn gặp khó khăn.

  3. Kiến nghị đề xuất:

  - Đề nghị UBND Tỉnh, huyện cấp kinh phí riêng cho công tác làm nhà ở tại bản dân tộc, theo hướng sửa chữa, làm mới theo kiến trúc nhà sàn, tạo nét riêng biệt cho Bản Rào tre; cấp kinh phí thường xuyên hàng năm để xã có điều kiện tổ chức các ngày Lễ, hội và duy trì các câu lạc bộ văn hóa- văn nghệ của người Chứt. Cần thiết phải thành lập các đội tuyên truyền, hướng dẫn, động viên để chính những thành viên tộc người Chứt để thay đổi tư duy nhận thức của họ, phát huy nội lực của họ trong bảo tồn văn hóa truyền thống, tránh việc làm thay, áp đặt của các cơ quan quản lý.

- Đối với dân tộc Chứt tại xã Hương Liên, tình trạng kết hôn sớm, hôn nhân cận huyết thống vẫn xảy ra ảnh hưởng đến sức khỏe, thể trạng của phụ nữ và trẻ em dân tộc, làm suy thoái giống nòi. Nguyên nhân chủ yếu là hiện nay người dân tộc Chứt không kết hôn được với người bên ngoài.

+ Đề nghị tỉnh có hỗ trợ để xây dựng đề án chống hôn nhân cận huyết thống, kết hôn sớm và hỗ trợ truyền thông nâng cao nhận thức về các vấn đề trên.

+ Tiếp tục có các chính sách hỗ trợ người dân tộc Chứt kết hôn với người Kinh hoặc kết hôn với người dân tộc ở các bản khác.

+ Kiến nghị chính phủ quan tâm mở con đường từ Bản Rào tre, xã Hương Liên, Huyện Hương Khê, Hà Tĩnh sang xã Hương Hóa, huyện Tuyên Hóa, Tỉnh Quảng Bình để tạo điều kiện cho dân tộc Chứt ở 2 địa phương, giao lưu kết nối tình cảm, giảm nguy cơ hôn nhân cận huyết thống và phát triển kinh tế.

- Đề nghị tỉnh, huyện có cơ chế bố trí một cán bộ chuyên trách cắm bản, được đào tạo tiếng dân tộc và được hưởng các chế độ tương ứng theo quy định để có thể làm tốt công tác tuyên truyền, vận động bà con.

- Trang phục người Chứt xưa được làm bằng vỏ cây, lá cây do vậy trong giai đoạn hiện nay,  người Chứt gần như dùng trang phục của người Kinh, đề nghị sở Văn hóa có nghiên cứu để thiết kế ra một mẫu trang phục phù hợp với người Chứt về kiểu dáng cũng như các họa tiết trên trang phục.

- Người Chứt ở Hà Tĩnh và Quảng Bình có mối liên hệ với nhau, nên khi nghiên cứu đề bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của người Chứt ở Hà Tĩnh cần có khảo sát, tham khảo thêm cộng đồng dân tộc Chứt ở Quảng Bình. Khi triển khai các công trình dự án liên quan đến đồng bào Chứt phải có sự tham gia ý kiến của cấp ủy, chính quyền địa phương sở tại và cộng đồng dân cư, để sát với các tín ngưỡng, tập tục của người Chứt.


TRÍCH: Tham luận “Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng cơ sở đối với việc bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số”

      Người tham luận: Trần Phúc Anh 

 Bí thư Đảng ủy, chủ tịch HĐND xã Hương Liên, Hương Khê   

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2020

DIỄN VĂN KỶ NIỆM 90 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2020)




HỒ BÌNH SƠN, THỊ TRẤN HƯƠNG KHÊ, HÀ TĨNH


Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang
Kính thưa các đồng chí nguyên lãnh đạo huyện qua các thời kỳ,
Thưa quý vị đại biểu, thưa toàn thể đồng bào, đồng chí!
Hòa trong không khí vui tươi, phấn khởi chào đón năm mới 2020, hôm nay, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Hương khê long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2020) và 90 năm Ngày thành lập Đảng bộ huyện Hương Khê (11/1930 – 11/2020).
 Thay mặt Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện, tôi gửi tới các bậc lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, các đồng chí nguyên lãnh đạo huyện qua các thời kỳ, các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước, nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo, cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân trong huyện và kiều bào Hương Khê ở nước ngoài lời chúc mừng năm mới hạnh phúc và thắng lợi.
Kính thưa đồng bào, đồng chí!
Cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đất nước ta chìm trong đêm dài nô lệ. Nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống ách áp bức, bóc lột của thực dân cướp nước và phong kiến tay sai. Các phong trào diễn ra mạnh mẽ, tràn đầy khí phách bất khuất và sáng ngời tinh thần yêu nước, nhưng tất cả đều không thành công, vì thiếu một đường lối đúng.
Trong bối cảnh ấy, đồng chí Nguyễn Ái Quốc với nhiệt tình yêu nước cháy bỏng, đã bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước, cứu dân, và Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Người, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam khi đó là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã họp Hội nghị hợp nhất thành một Đảng và lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thảo luận và thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, đồng thời định kế hoạch lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Các văn kiện trên đã xác định nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, lập ra Chính phủ của nhân dân, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được sống tự do, hạnh phúc.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta. Sự ra đời của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công chuẩn bị cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, là kết quả tất yếu của lịch sử, là kết quả của quá trình kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng nước ta và xu thế của thời đại. Đảng ta ra đời đã chấm dứt thời kỳ bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước trong hơn hai phần ba thế kỷ, kể từ khi nước ta bị đế quốc xâm lược. Từ đây, cách mạng nước ta có đường lối đúng đắn. Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự trở thành người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
90 năm qua, dù con đường đi lên có lúc quanh co, phức tạp, có lúc phạm khuyết điểm, sai lầm, nhưng với bản lĩnh vững vàng, khiêm tốn, cầu thị, Đảng ta đã nghiêm túc phê bình, tự sửa chữa khuyết điểm, được Nhân dân tin yêu, ủng hộ, cho nên Đảng ta lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, không một thế lực nào ngăn cản nổi. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX, mà đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; chiến thắng Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954; Đại thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, thu non sông về một mối; tiếp tục lãnh đạo xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nhìn lại chặng đường đấu tranh oanh liệt của Đảng ta, ôn lại những khó khăn, gian khổ, sự hy sinh to lớn cùng những thắng lợi vẻ vang mà Nhân dân ta đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta càng trân trọng quá khứ, nâng niu giữ gìn những thành quả của cách mạng, càng thấm thía và biết ơn vô hạn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu; càng thấu hiểu, tin yêu và tự hào về dân tộc ta - một dân tộc anh hùng, thông minh, sáng tạo. Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 90 năm qua đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta; đồng thời, chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện, thử thách và không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của Nhân dân. Chúng ta vô cùng tự hào về những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam, về sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện của đất nước, càng khẳng định rằng, chỉ có Đảng ta, một Đảng mác xít chân chính, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam; là Đảng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa đất nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội, làm cho dân tộc ta được độc lập, tự do thực sự, đất nước ta phát triển phồn vinh, Nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. 
Thưa đồng bào, đồng chí!
Tự hào về sự vĩ đại của Đảng ta trong chặng đường 90 năm qua, chúng ta càng tự hào về Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh và đảng bộ Huyện Hương Khê.
Tháng 3 - 1930, Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh được thành lập. Trong những năm 1930 - 1931, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp Nhân dân Hà Tĩnh đã vùng dậy làm nên cao trào cách mạng Xô Viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931) để lại nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá.
- Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), làn sóng cách mạng dâng cao cả tỉnh.  Dưới sự lãnh đạo của Ủy ban khởi nghĩa liên tỉnh Nghệ Tĩnh, chỉ trong vòng 5 ngày, bắt đầu từ thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Can Lộc ngày 16-8 và kết thúc là cuộc khởi nghĩa ở Hương Khê vào ngày 21-8, Nhân dân Hà Tĩnh đã vùng dậy giành chính quyền về tay mình. Hà Tĩnh là một trong 4 tỉnh của cả nước giành được chính quyền sớm nhất trong Cách mạng Tháng Tám.  Nối tiếp những chiến công, Đảng bộ Hà Tĩnh cùng với cả nước bước vào thời kỳ bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975); Sau ngày hòa bình thống nhất Hà Tĩnh cùng cả nước khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành công cuộc đổi mới, làm thay da đổi thịt, bừng sáng diện mạo quê hương.
Thưa các đồng chí
Hương Khê là một trong những địa phương thành lập tổ chức Đảng sớm nhất, nhanh chóng nắm bắt và triển khai nhiều hoạt động theo đường lối, chủ trương của Đảng. Chỉ trong thời gian ngắn, tổ chức Đảng và các đòan thể quần chúng được tăng cường, 13 xã có phong trào mạnh, Hội nông dân có 2.210 hội viên, Hội phụ nữ có 1.655 hội viên, Đoàn thanh niên cộng sản có 731 đoàn viên, Tự vệ có 862 đội viên, Hội cứu tế, tán trợ có 760 hội viên; đến giữa năm 1930, toàn huyện có 100 Đảng viên, đảng bộ huyện đã được hình thành trên thực tế.
Ngày 20-11-1930, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hương Khê lần thứ nhất được tổ chức tại xã Trúc Lâm (Hương Thanh, nay là xã Hà Linh), đánh dấu bước phát triển quan trọng về tổ chức của Đảng bộ. Đại hội kiểm điểm tình hình, đề ra phương hướng, nhiệm vụ chung, bầu Ban chấp hành Đảng bộ khoá I. Đồng chí Mai Phì được bầu làm Bí thư. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cao trào cách mạng  1930 – 1931 đã phát triển mạnh mẽ, đỉnh cao là cuộc đấu tranh ở Rôộc Cồn (Phú Phong) nhiều nơi trong huyện đã xuất hiện làng Xô Viết. Phong trào cách mạng ở Hương Khê đã gắn chặt giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh kinh tế, nên bước đầu đã đem lại một số quyền lợi thiết thực cho nhân dân lao động như chia ruộng đất công, giảm tô, giảm tức làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
Giai đoạn 1945 – 1946, hệ thống tổ chức Đảng được khôi phục, đã lãnh đạo nhân dân chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ, giữ vững được thành quả của cuộc cách mạng Tháng Tám. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954) Hương Khê là huyện căn cứ địa hậu phương trọng yếu thuộc vùng tự do Thanh – Nghệ - Tĩnh, một an toàn khu quan trọng của Ủy ban kháng chiến hành chính Trung bộ và Liên khu IV. Từ giữa năm 1947, Trường Trung học Hương Khê Bình Trị Thiên, Xưởng bào chế hoá chất, Trường kỹ nghệ thực hành, Trường Trung học Hương Khê và nhiều công binh xưởng được thành lập trên địa bàn toàn huyện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Hương Khê đã có sự phát triển mọi mặt về kinh tế và quân sự. Nhiều đoàn cán bộ, bộ đội của cách mạng Lào đã sang đứng chân, đặt cơ sở huấn luyện tại Hương Khê.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước(1954 - 1975) Hương Khê cùng với các địa phương khác thuộc Quân khu 4 vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương, là địa bàn đánh phá ác liệt nhất của giặc Mỹ trên đất Hà Tĩnh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, huyện nhà đạt được những thành tựu to lớn trong xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội và hoàn thành nhiệm vụ hậu phương. Quân và dân huyện nhà đã bắn rơi 46 máy bay, bắt sống 11 gặc lái Mỹ. Hương Khê cũng là nơi đầu tiên bắn rơi máy bay trực thăng Mỹ ở miền Bắc. Trong những năm tháng ác liệt ấy, hàng nghìn người con quê hương đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, lên đường phục vụ chiến đấu và tham gia trực tiếp chiến đấu, trong đó có nhiều người đã ngã xuống. Ghi nhận những đóng góp trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ Quốc, lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Hương Khê cùng 17 tập thể, 4 cá nhân đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hình ảnh "O du kích nhỏ giương cao súng; thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu", là niềm tự hào của quân dân huyện nhà và của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Sau đại thắng mùa xuân 1975, Hương Khê cùng cả nước bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, thực hiện công cuộc đổi mới, bên cạnh những thuận lợi, còn những khó khăn, thách thức: là huyện có điểm xuất phát thấp, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt. Ban chấp hành Đảng bộ huyện qua các nhiệm kỳ đã tập trung lãnh đạo và đạt nhiều kết quả quan trọng:
Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân trong 5 năm gần đây đạt 14,6%; năm 2019, thu nhập bình quân đầu người, đạt 40,8 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng giảm tỉ trọng  nông - lâm nghiệp, tăng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Tiếp tục đầu tư phát triển các sản phẩm chủ lực, mở rộng thị trường tiêu thụ bưởi Phúc Trạch; tập trung xây dựng thương hiệu và xúc tiến đưa cam Khe Mây vào hệ thống siêu thị Vinmart. Chăn nuôi đã chuyển dần từ nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển gia trại, trang trại quy mô lớn và vừa, liên kết với doanh nghiệp theo hướng bền vững. Trồng rừng phát triển mạnh theo hướng tạo vùng nguyên liệu tập trung, gắn với công nghiệp chế biến; tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 72%. Tập trung hoàn thành và công bố nhiều quy hoạch như: Quy hoạch thủy lợi; Quy hoạch phân khu Thị trấn; Quy hoạch sử dụng đất; Quy hoạch giao thông; Quy hoạch hệ thống lưới điện,... Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, tiêu biểu như: nâng cấp mở rộng tuyến đường nối Thị trấn Hương Khê với Thành phố Hà Tĩnh, đường Hà Linh-Phúc Trạch, đường vượt lũ Hương Đô - Khe Mây, Cầu Hương Đô, Cầu Phương Mỹ, Cầu Hương Thủy ; Công trình Thuỷ lợi sông Tiêm, Đá Hàn, các tuyến kè chống sạt lở bờ sông Tiêm, sông Ngàn Sâu; Khu định cư cho đồng bào dân tộc Chứt, các công trình trường học từ bậc Mầm non đến THPT, hàng trăm km đường giao thông nông thôn, kênh mương bê tông đạt chuẩn...
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, Đảng bộ đã quan tâm, chú trọng đến lĩnh vực văn hóa - xã hội. Số lượng, chất lượng gia đình văn hóa, làng văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa ngày càng tăng, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo. Đến nay, toàn huyện có 17/20 xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa; 18/21 xã, thị trấn có nhà văn hoá, khu thể thao đạt chuẩn, có 44/59 trường chuẩn quốc gia; tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 97%, tốt nghiệp THPT đạt 98%; chất lượng mũi nhọn cấp THPT xếp vào tốp đầu toàn tỉnh. Năm 2020, 100% xã, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế; 77,3% trạm y tế có bác sỹ. Triển khai thực hiện đề án bảo tồn, phát triển đồng bào dân tộc Chứt, bản Rào tre, xã Hương Liên; công tác đền ơn đáp nghĩa, giảm nghèo, nhân đạo từ thiện được đẩy mạnh, tỉ lệ hộ nghèo năm 2019 là 7,51%.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực. Toàn huyện đã đạt 354 tiêu chí, 9 xã đạt xã Nông thôn mới, xã Hương Trà đạt xã Nông thôn mới kiểu mẫu, có 36 khu dân cư đạt chuẩn và gần 500 vườn mẫu đạt chuẩn. Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ, chiến đấu trị an đạt kết quả tốt, đảm bảo an ninh biên giới. Hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển giao quân và nhiêm vụ bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, chính sách tồn đọng sau chiến tranh. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị diễn ra trên địa bàn; kiềm chế được sự gia tăng của các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông.
          Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã họi được Đảng bộ quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt. Đến nay, Đảng bộ huyện có 40 Đảng bộ, chi bộ cơ sở, với gần 7.000 đảng viên, từng bước trưởng thành, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ lãnh đạo chủ chốt các cấp luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII); quan tâm đối thoại, tiếp xúc trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, lắng nghe và kịp thời giải quyết thỏa đáng ý kiến, kiến nghị, phản ánh của người dân, góp phần tăng cường, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, cấp ủy, chính quyền huyện đã tập trung chỉ đạo xây dựng Đề án và thực hiện quy trình sáp nhập 02 đơn vị Trung tâm văn hóa – thể thao và du lịch với Đài truyền thành – truyền hình huyện; kiêm nhiệm chức danh Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy và Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện; hợp nhất 03 tổ chức hội quần chúng đặc thù cấp huyện và 04 hội quần chúng đặc thù cấp xã; sáp nhập xã Phương Điền và xã Phương Mỹ; hoàn thành việc sáp nhập 17 thôn, tổ dân phố trên địa bàn.
Hướng tới Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng cộng sản, Ban chấp hành Huyện ủy đã lãnh đạo phát động nhiều phong trào thi đua sôi nổi, sâu rộng trên các lĩnh vực, phấn đấu đạt các chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2020; tổ chức thăm hỏi, tặng quà cán bộ lãnh thành, gia đình có công với cách mạng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; Tích cự tham gia Cuộc thi “Tìm hiểu 90 năm lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam”; Tổ chức gặp mặt lãnh đạo huyện qua các thời kỳ; Vinh danh các Bí thư chi bộ tiêu biểu; Tổ chức Hội diễn văn nghệ, các giải thể thao; Tổ chức dâng hương dâng hoa tại Tượng đài Bác Hồ, các Khu di tích và nghĩa trang liệt sỹ, qua đó, tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị tốt cho Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025.
Những kết quả Đảng bộ và nhân dân huyện Hương Khê đạt được trong 90 năm qua là rất trân trọng và tự hào; thể hiện sự nỗ lực, phấn đấu bền bỉ, đoàn kết, thống nhất, sáng tạo của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp huyện nhà; sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh. Thời gian tới, để đưa Hương Khê phát triển nhanh, bền vững, sớm đạt huyện Nông thôn mới, Thị trấn đạt Đô thị văn minh. Đảng bộ tiếp tục tập trung lãnh đạo chỉ đạo tạo sự đội phá để khai thác tiềm năng về đất đai, tài nguyên, ứng dụng khoa học công nghệ, liên kết phát triển các sản phẩm chủ lực, có lợi thế; khai thác tiềm năng về văn hóa, lịch sử, sinh thái để phát triển dịch vụ, du lịch; Tập trung huy động nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, trường học, công nghệ - thông tin; Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; Chỉ thị 05 của Bộ chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các quy định của Đảng; Đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tạo chuyển biến mạnh mẽ về cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Kính thưa đồng bào, đồng chí!
Tự hào về Đảng quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy hơn nữa truyền thống vẻ vang của Đảng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; xứng đáng là chỗ dựa vững chắc, niềm tự hào, tin yêu của Nhân dân. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), và   Chỉ thị số 05-CT/TW, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong huyện phải xây dựng phong cách, tác phong công tác; nêu cao tính tiền phong gương mẫu, thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực; kiên quyết đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Thay mặt Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, tôi kêu gọi toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân trong huyện nhà tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, ra sức lao động, sản xuất, nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 29, xây dựng Hương Khê sớm trở thành huyện Nông thôn mới
Nhân dịp năm mới 2020 và chuẩn bị đón Tết cổ truyền của dân tộc, tôi xin gửi tới các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, quý vị đại biểu, các đồng chí và toàn thể đồng bào, cán bộ, chiến sĩ trong toàn huyện lời chúc sức khỏe, đoàn kết và quyết thắng.
Xin trân trọng cảm ơn!

Diễn đàn "Tuổi trẻ Hương Khê sắt son niềm tin với Đảng" 2020























Di tích lịch sử chứng tích tội ác chiến tranh Trường Cấp 2 Hương Phúc

   


        Di tích lịch sử chứng tích tội ác chiến tranh Trường Cấp 2 Hương Phúc
                                               (Huyện Hương Khê – Hà Tĩnh)


     Năm 1965, bị thất bại liên tiếp trên chiến trường, đế quốc Mỹ đưa thêm lực lượng chiến đấu Mỹ vào miền Nam, đồng thời mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng và ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam.
     Trường cấp 2 Hương Phúc được thành lập trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh phá hoại (1.9.1965). Nơi đây là trường học của con em 3 xã vùng sâu (Hương Phúc, Hương Trạch và Hương Lĩnh). Do tính chất trường học trong thời chiến tranh nên chỉ có 3 lớp học (2 lớp 5 và 1 lớp 6). Trường được làm sâu xuống lòng đất, có 3 hầm trú ẩn lớn, mỗi hầm cách nhau 200m. Mỗi lớp học có hệ thống hào chạy tỏa ra xung quanh khu vực dân cư. Hai bên hệ thống hào có hầm trú xen kẽ, mỗi hầm cách nhau 5m. Hệ thống hầm trú ẩn này được làm kiên cố theo hầm chữ A (hầm Triều Tiên), làm bằng các khúc gỗ tròn xếp chồng lên nhau thành mái và trát lớp đất dày lên trên.
     16h 30 phút ngày 9.2.1966, một tốp máy bay F4 của lực lượng không quân Mỹ ném 58 quả bom xuống khu vực dân cư, có 6 quả bom rơi vào khu vực trường, trong đó có 2 quả rơi vào lớp 5A do thầy Thái Văn Nhậm đang giảng dạy. Toàn bộ ngôi trường 2 gian bị bom Mỹ phá hủy, lớp học biến thành hố bom sâu. Các quả bom khác rơi vào hầm trú ẩn, sách vở, dụng cụ học tập bị phá hủy. Sau khi dứt tiếng bom lực lượng bộ đội, dân quân, thanh niên xung phong, thầy giáo đã tiến hành đến đào bới và tìm kiến học sinh. Tổng số có 33 em bị chết tại chỗ, 24 người bị thương nặng. Các em học sinh bị giặc Mỹ giết hại và bị thương đều là con em của 2 xã Hương Trạch (Hương Phúc, Hương Trạch) và Hương Lĩnh, đang ở tuổi 12.



Cô học trò Nguyễn Thị Mão (người bị thương trong trận ném bom) trả lời nhà báo quốc tế tại Hà Nội (năm 1966). Ảnh tư liệu


     Địa điểm trường cấp 2 Hương Phúc bị giặc Mỹ ném bom ngày 9/2/1966 có diện tích 504 m2. Di tích này gồm hố bom 1 (đường kính 10 m, rộng 8 m, sâu 4,5m, cách tường bao sau đài tưởng niệm 1,4 m), hố bom 2 (đường kính 12 m, rộng 10 m, sâu 5 m, cách hố bom 1 là 8 m). Để ghi sâu tội ác của đế quốc Mỹ đối với trường cấp 2 Hương Phúc, năm 1988 Đài tưởng niệm được xây dựng ở vị trí sát hố bom 1. Đài tưởng niệm có diện tích 10,6 m x 9,6 m. Mặt trước đắp nổi dòng chữ "Bia tưởng niệm". Trên đỉnh dòng chữ được đắp nổi ngôi sao năm cánh. Phía dưới là biểu tượng trang sách học trò. Dưới cùng là dòng chữ đắp nổi: "Nơi đây 33 em học sinh trường cấp 2 Hương Phúc bị giặc Mỹ giết hại ngày 9.2.1966".
       Toàn bộ di tích nằm trên địa hình bằng phẳng. Phía trước di tích là đường quốc lộ 15A, phía Tây và Phía Bắc là khu dân cư, phía Đông là đường làng. Hiện vật còn lại là 3 cuốn vở học sinh. Với giá trị và ý nghĩa lịch sử, di tích được Bộ Văn hóa Thông tin ra Quyết định số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28 tháng 12 năm 2001 công nhận là Di tích lịch sử địa điểm chứng tích tội ác chiến tranh tại trường cấp 2 Hương Phúc.

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2020

Thành lập đảng bộ mới: xã Điền Mỹ



Thực hiện Nghị quyết số 819/NQ-UBTVQH14 ngày 21/11/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện. Sáng ngày 02/1/2020, Huyện ủy Hương Khê (Hà Tĩnh) công bố Quyết định thành lập Đảng bộ xã Điền Mỹ. Theo đó Ban Chấp hành Đảng bộ xã có 15 đồng chí, Bí thư là đồng chí Hoàng Xuân Tần. Đảng bộ mới xã Điền Mỹ có 250 đảng viên, với 15 chi bộ, trong đó chi bộ thôn xóm là 11, chi bộ trường học là 3, chi bộ trạm y tế là 1 chi bộ.
Xã Điền Mỹ được sáp nhập từ 2 xã là Phương Điền và Phương Mỹ. Sau khi thành lập, xã Điền Mỹ có diện tích 63,80 km2 và quy mô dân số 4.763 người. Xã Điền Mỹ giáp các xã: Hà Linh, Hòa Hải, Phúc Đồng, các huyện Can Lộc, Đức Thọ và Vũ Quang. Sau khi sắp xếp, huyện Hương Khê có 21 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 20 xã và 1 thị trấn.
Phúc Anh.








Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN XÂY DỰNG KHU XỬ LÝ RÁC THẢI TẬP TRUNG HUYỆN HƯƠNG KHÊ (THÁNG 9/2019


   1.Tại sao phải xây dựng khu xử lý rác thải?  
           Trong những năm gần đây, kinh tế- xã hội huyện có bước phát triển, đời sống của nhân dân được cải thiện, theo đó tình hình rác thải sinh hoạt phát sinh ngày càng nhiều nhưng chưa được thu gom xử lý theo quy định. Nguyên nhân chủ yếu là do trên địa bàn huyện chưa có khu xử lý rác thải tập trung. Để xử lý rác thời gian qua chính quyền thị trấn và các xã lân cận đã vận động nhân dân tự đốt rác của gia đình mình. Tuy vậy số lượng rác nhiều, nhất là khu vực chợ, nhà hàng, khu đông dân cư không xử lý được. Để giải phóng rác tồn ứ đảm bảo mỹ quan và sức khỏe cho người dân, thời gian qua UBND Thị trấn đã trích ngân sách để thuê các đơn vị môi trường chở rác đi xử lý. Số tiền thuê xử lý rác từ đầu năm 2018 đến nay hơn 3.5 tỉ đồng.
         Nếu không sớm xây dựng điểm tập kết rác tạm thời và Khu xử lý rác thải sinh hoạt tập trung, dự báo trong thời gian tới tình trạng ô nhiễm môi trường sẽ rất trầm trọng; ảnh hưởng đến sức khỏe Nhân dân và phát triển kinh tế, xã hội. Nên, việc xây dựng Khu xử lý rác thải tập trung; điểm tập kết rác tạm thời là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và phải thực hiện.
2. Vị trí xây dựng khu xử lý rác ở đâu, phạm vi, quy mô của dự án như thế nào?
- Vị trí: Khoảnh 6, Tiểu khu 208, xã Hương Thủy
         - Tổng diện tích 14.143 m2,
         - Tổng mức đầu tư 23,3 tỷ đồng
         - Công nghệ sử dụng: Lò đốt SANKYO GF 1500 với công suất 1,0 tấn/giờ.
- Thời gian sử dụng:  15 năm.
         * Khu xử lý rác thải bao gồm các hạng mục như sau:
- Khu xây dựng công trình (gồm các hạng mục nhà trực, trạm cân, nhà điều hành, nhà phân loại và đặt lò đốt, khu vực xử lý nước thải, bể nước, bơm nước, trạm biến áp, hàng rào bao quanh...) với diện tích 1.648 m2;
- Khu chôn lấp tro xỉ: 1.800 m2;
- Đất giao thông (sân bê tông và đường giao thông): 2.988 m2;
- Đất cây xanh: 3.325 m2.
- Đất mái taluy: 921 m2;
- Đất phục vụ các hạng mục phụ trợ khác (hệ thống cấp điện, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước mưa, sân đường nội bộ, hệ thống cây xanh...): 3.461 m2
          - Đường hoàn trả dài 326,5 m (Điểm đầu: phía Đông của dự án, Điểm cuối: phía Tây của dự án).
3 . Công nghệ sử dụng là gì ??
Với đặc điểm Hương Khê là huyện miền núi, địa bàn rộng, có trên 90% dân số sản xuất nông nghiệp, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh không nhiều, do đó việc lựa chọn công nghệ xử lý bằng Lò đốt là phù hợp.
Theo đó, sẽ sử dụng Lò đốt SANKYO GF 1500 công suất 1 tấn/giờ, công nghệ Nhật Bản, xuất xứ từ Thái Lan; loại Lò này đã được lắp đặt ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước và đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá phù hợp; Lò đốt này khi hoạt động có các thông số đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn sinh hoạt (QCVN 61:2016/BTNMT).
4. Công nghệ Lò đốt có ưu điểm gì??
- Không xả nước thải ra môi trường: Theo tính toán thì nước rỉ rác hầu như không có, nhưng khi đầu tư Dự án vẫn xây dựng hệ thống thu gom xử lý nước rỉ rác, nước vệ sinh khu vực Lò đốt để đảm bảo không thải ra ngoài. Nước rỉ rác và nước vệ sinh khu vực Lò đốt sau khi xử lý bảo đảm đạt quy chuẩn QCVN 25:2009/BTNMT sẽ được tái sử dụng để phục vụ tưới cây xanh trong khuôn viên Dự án và làm nguội tro xỉ trước khi đưa vào hố chôn lấp (Hố chôn lấp tro xỉ được thiết kế xây dựng theo TCXDVN 261:2001 và che bạt đầy đủ, nếu có nước từ hố chôn lấp tro xỉ cũng được đưa vào hệ thống xử lý).
- Giảm thiểu mùi hôi: Với công nghệ Lò đốt thì mùi hôi phát sinh chủ yếu tại khu vực tập kết rác thải và được xử lý bằng cách phun xịt chế phẩm EM (vi sinh vật hữu hiệu). Khu tập kết rác, được để trong nhà kho có diện tích trên 1.200m2 được che chắn, mùi hôi được quạt hút đưa vào lò đốt cùng với rác.
- Không phát sinh khí độc hại: Khí thải của lò đốt được xử lý bằng các giải pháp trao đổi nhiệt, xyclon thu bụi và hấp thụ bằng nước vôi để xử lý các thành phần hóa học, sau đó qua hấp thụ than hoạt tính đảm bảo xử lý triệt để đáp ứng quy chuẩn môi trường của Việt Nam QCVN 61-MT: 2016/BTNMT
5. Quy trình thu gom nước mưa được thực hiện như thế nào?
Khi có mưa, nước mưa chảy tràn khu vực dự án được thu gom bằng hệ thống mương riêng biệt, không lẫn với nước mưa từ hố chôn lấp tro xỉ và nước thải sinh hoạt trong khu vực dự án, sau đó lắng lọc, xử lý bằng các hố gas, thoát ra khe Cạn (phía Tây Bắc khu vực dự án)
6. Vị trí đó có ngập lụt không?
Cao độ nền hiện nay của khu vực Dự án từ 30m đến 62m;
Cao độ ngập lụt khu vực đó từ năm 2005 – 2018 là từ  10,3m đến 16,5m (năm 2010)
Cao độ san nền phần mặt bằng khu xử lý khống chế từ 41,0m - 41,2m. Hướng dốc từ Nam xuống Bắc.
Việc cao độ thiết kế san nền cao hơn nhiều so với cao độ ngập lụt sẽ đảm bảo dự án không bị ngập trong mùa mưa bão.
Do Dự án xử lý rác bằng công nghệ đốt được đặt trong nhà và kho cha rác có diện tích 1200m2 nên lượng nước rỉ rác hầu như không có phát sinh, tuy nhiên để đảm bảo triệt để không cho nước rỉ rác phát sinh ra ngoài môi trường thì Dự án cũng đã đầu tư Hệ thống thu gom nước rỉ rác gồm tuyến ống dẫn nước rỉ rác từ nhà chứa lò đốt và kho đựng rác về hồ xử lý nước thải và sau khi xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn cho phép theo quy định thì sử dụng bơm chân không bơm tưới cho cây xanh trong khu vực dự án. Thu gom nước thải sử dụng ống BTLT D300, tổng chiều dài L=18m.
Sẽ tiến hành chôn lấp các loại rác là chất vô cơ như: gạch, đá, cát, sỏi, bêtông, cùng với tro xỉ thải ra từ Lò đốt sẽ được xe đẩy vận chuyển đi chôn lấp theo đúng quy định.
Các ô chôn lấp được thiết kế theo TCXDVN 261: 2001 đảm bảo áp dụng cho bãi chôn lấp hợp vệ sinh.
Các ô chôn lấp theo hồ sơ thiết kế; tường xây bằng đá học M75, đáy lu lèn đạt K90 và có màng chống thấm bằng lớp màng HDPE dày 2mm. Giải pháp chống thấm được sử dụng màng HDPE dày 2mm, lớp màng này có độ bền trên 50 năm, hố chôn lấp được che đậy bằng bạt tiêu chuẩn đảm bảo không để nước mưa tràn vào. Đồng thời, cũng thiết kế hệ thống thu nước mưa trong trường hợp khi chôn lấp tro xỉ có mưa phát sinh nếu có nước sẽ có hệ thống thu nước về khu xử lý.
Quá trình chôn lấp tro xỉ được tiến hành như sau: Tro xỉ được đổ từng lớp vào hố và được đầm chặt để tiết kiệm thể tích chôn lấp (hệ số đầm nén là 0,7 - 0,8) và được chôn thành từng lớp. Hố chôn lấp khi được lấp đầy tro, xỉ thì được rải một lớp đất dày 30 cm đầm chặt và phủ một lớp bạt theo tiêu chuẩn nhằm ngăn không cho nước mưa tràn vào hố.
- Khi dự án đi vào hoạt động thì mùi phát sinh chủ yếu tại khâu thu gom, tập kết rác thải và được xử lý bằng cách phun xịt chế phẩm EM nên không phát sinh ảnh hưởng ra ngoài khu vực không cho phép.
- Khí thải phát sinh từ quá trình hoạt động của lò đốt được xử lý thông qua hệ thống xử lý khí thải của lò đốt SANKYO GF 1500.
+ Nhiệt độ của khí thải đi qua hệ thống được hạ nhiệt nhanh để tránh sự tái sinh của dioxin và furan.
+ Bụi và tro được tách bằng phương pháp ẩm.
+ Các chất Cl, SO2, CO2, NO2 …, được hấp thụ bằng dung dịch sữa vôi.
+ Thiết bị hấp phụ các khí độc còn sót lại bằng than hoạt tính.
Khí thải xả ra ngoài theo ống khói đáp ứng tiêu chuẩn xả thải theo QCVN 61-MT:2016/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
3. Vì sao chậm tiến độ ?
Dự án Khu xử lý chất thải rắn tập trung của huyện được UBND tỉnh thống nhất cho phép điều chỉnh từ vùng Khe Nác, xã Gia Phố sang Khoảnh 6, Tiểu khu 208, xã Hương Thủy từ tháng 3/2018 ; hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng và đã bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công
Tuy nhiên, theo đề xuất của một số hộ dân ở xóm 6, xóm 7, xã Gia Phố và xóm 1, xã Hương Thủy, một địa điểm đặt lò đốt khác được xem xét tại vùng Trọ Khướu-Trào Tráo, thuộc khoảnh 5, tiểu khu 208. Đề xuất này của người dân đã được tiếp thu và chỉ đạo thực hiện để xem xét tính khách quan của 2 vị trí.
UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở TNMT tiến hành hợp đồng với Viện Công nghệ môi trường thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam để trực tiếp khảo sát, đánh giá khách quan giữa 02 vị trí nêu trên
Sau hơn 3 tháng thực hiện các công việc trên thực địa và phân tích các kết quả khảo sát, đã có kết quả đánh giá: việc đầu tư Dự án Khu xử lý chất thải rắn huyện Hương Khê bằng công nghệ Lò đốt tại vị trí số thuộc Khoảnh 6, Tiểu khu 208, xã Hương Thủy là phù hợp, đảm bảo tất cả các yếu tố về môi trường và kinh tế, xã hội hơn so với vị trí tại khoảnh 5, tiểu khu 208 do người dân đề xuất
- Xa khu dân cư hơn,
- Về môi trường đảm bảo hơn,
- Về kinh phí đầu tư Dự án thấp hơn
- Điều hiện kỹ thuật thi công thuận lợi hơn.
Sau khi có kết quả của Viện Công nghệ môi trường, hiện nay đã đầy đủ căn cứ để tiếp tục triển khai dự án.
11. Bao giờ triển khai thực hiện dự án?
Ngày 29/10/2019 cuộc đối thoại giữa người dân và chính quyền về việc thực hiện dự án khu xử lý rác thải rắn sinh hoạt tập trung ở huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) đã đạt được sự đồng thuận, thống nhất triển khai trong tháng 11/2019.